Đặt banner 324 x 100

Tìm hiểu về ảo hóa lưu trữ – Storage Virtualization


Storage Virtualization là tập hợp những thành phần lưu trữ vật lý cơ từ nhiều dòng thiết bị lưu trữ thành một thiết bị lưu trữ duy nhất – hoặc nhóm dung lượng storage khả dụng – đc quản lý từ 1 bảng tinh chỉnh cơ sở. Công nghệ này dựa vào phần mềm để định vị dung tích lưu trữ có sẵn từ những thiết bị vật lý & tiếp đến tổng hợp dung lượng đó thành một nhóm lưu trữ để thậm chí được lạm dụng quá bởi các sever theo kiến ​​trúc cổ xưa hoặc trong môi trường xung quanh ảo hóa với những máy ảo (VM).

ứng dụng lưu trữ ảo chào đón những yêu cầu I/O từ máy vật lý hoặc máy ảo và gửi các nhu yếu đó đến vị thế vật lý tương thích của dòng thiết bị lưu trữ là một trong những phần của toàn bộ lưu trữ trong môi trường xung quanh ảo hóa. Ở góc nhìn người tiêu dùng sẽ không thể nhìn thấy được các khoáng sản lưu trữ không giống nhau phát sinh một tổ, do đấy, storage ảo lưu hành giống như một ổ đĩa vật lý cơ duy nhất, hoặc một Logical Unit Number (LUN) có thể gật đầu những lệnh đọc/ghi chuẩn chỉnh.

Một vẻ ngoài ảo hóa lưu trữ rất chủ yếu đc thể hiện bằng một lớp ảo hóa phần mềm giữa phần cứng của khoáng sản lưu trữ & máy chủ lưu trữ – máy tính cá thể (PC), sever hoặc bất kỳ dòng thiết bị nào truy cập vào storage – giúp hệ điều hành (OS) & những ứng dụng mà thậm chí truy vấn & lạm dụng quá storage. Thậm chí một RAID array đôi khi cũng có thể có thể được đánh giá là 1 cái ảo hóa lưu trữ. Đa dạng ổ đĩa vật lý trong mảng đc hiển thị cho người dùng như 1 thiết bị lưu trữ duy nhất Dường như, ở bên trong, nó phân bổ & xào luộc hung liệu sang phổ biến đĩa để nâng cao hiệu suất I/O & để bảo đảm hung liệu trong tình huống có 1 ổ bị lỗi.

>>> Xem thêm: mua máy hp ml110

 

giải pháp ảo hóa hạ tầng lưu trữ

các cái ảo hóa lưu trữ: Block đối với File

có hai biện pháp ảo hóa lưu trữ cơ bản: dựa theo File (tệp) hoặc dựa trên Block (khối). Ảo hóa lưu trữ dựa trên file là 1 ứng dụng cụ thể, đc áp dụng cho các hệ thống lưu trữ gắn mạng (NAS). Sử dụng giao thức Server Message Block (SMB) hoặc Common Internet File System (CIFS) trong môi trường máy chủ Windows hoặc những giao thức Network File System (NFS) cho khối hệ thống Linux, ảo hóa lưu trữ dựa theo file phá vỡ sự chịu ảnh hưởng trong một mảng NAS thông thường giữa tàn ác liệu được truy cập & chỗ đứng của storage vật lý cơ. Việc gộp chung các tài nguyên NAS giúp cách xử lý việc di chuyển file ở cơ chế nền dễ dàng hơn, điều đó để giúp đỡ nâng cấp hiệu suất. Bình thường, khối hệ thống NAS không phức tạp để làm chủ, nhưng ảo hóa lưu trữ đơn giản hóa đáng chú ý nghĩa vụ quản lý đa dạng thiết bị NAS thông qua một bảng điều khiển và tinh chỉnh (console) cai quản duy nhất.

Lưu trữ dựa trên block hoặc block access – khoáng sản lưu trữ tầm thường được truy vấn trải qua mạng lưu trữ Fibre Channel (FC) hoặc iSCSI storage area network (SAN) – được ảo hóa thường xuyên hơn đối với khối hệ thống lưu trữ dựa theo file. Những hệ thống dựa trên block trừu tượng hóa các phần tử lưu trữ xúc tích và ngắn gọn, chẳng hạn như phân vùng ổ đĩa, khỏi các khối storage vật lý cơ thực tế trong dòng thiết bị lưu trữ, ví dụ như ổ đĩa cứng (HDD) hoặc dòng thiết bị storage thể rắn. Bởi nó chuyển động theo bí quyết tương tự như phần mềm ổ đĩa gốc, nó hạn chế tải (overhead) cho các chu trình đọc và ghi, vì như thế những khối hệ thống lưu trữ block sẽ hoạt động tốt hơn những hệ thống dựa trên file.

vận động dựa trên block chất nhận được phần mềm thống trị ảo hóa tích lũy dung tích của những block của khoảng không lưu trữ còn hiệu dụng trên tất cả các mảng đc ảo hóa, và kế tiếp gộp chúng thành một khoáng sản dùng chung để gán cho bất cứ số lượng máy ảo, sever vật lý hay container nào. Ảo hóa lưu trữ quan trọng đặc biệt có ích cho block storage. Không giống như hệ thống NAS, việc làm chủ SAN có thể là một chu trình mất thời gian; rõ ràng, hợp nhất một trong những khối hệ thống lưu trữ block bên dưới một giao diện cai quản duy nhất thường giảm thiểu cho người tiêu dùng khỏi công việc tẻ nhạt của việc thông số kỹ thuật LUN, thậm chí giúp tiết kiệm ngân sách và chi phí thời gian đáng kể.

>>> Xem thêm: nơi bán hp ml110 gen10 giá rẻ

 

những chiến lược ảo hóa có thể đc áp dụng cho lưu trữ block, disk, tape và file.

phiên bản lúc đầu của ảo hóa dựa trên block là SAN Volume Controller (SVC) của IBM, bây giờ đc thường gọi là IBM Spectrum Virtualize. Phần mềm chạy bên trên một thiết bị hoặc mảng lưu trữ và sản sinh một đội nhóm lưu trữ duy nhất bằng phương pháp ảo hóa các LUN gắn kèm với máy chủ được kết nối có bộ tinh chỉnh lưu trữ. Spectrum Virtualize cũng được cho phép khách hàng phân cấp hung ác liệu block vào public cloud storage.

một loại mặt hàng ảo hóa lưu trữ ban đầu khác là Data Systems’ TagmaStore Universal Storage Platform của Hitachi, hiện đc có tên thường gọi là Hitachi Virtual Storage Platform (VSP). Ảo hóa lưu trữ dựa theo mảng của Hitachi có thể chấp nhận được khách hàng sinh ra một nhóm lưu trữ duy nhất bên trên các mảng đơn lẻ, ngay cả chúng từ các nhà cung cấp lưu trữ số 1 khác.

cách thức hoạt động vui chơi của ảo hóa lưu trữ

Để hỗ trợ quyền truy cập vào Ác liệu đc lưu trữ bên trên thiết bị lưu trữ vật lý cơ, phần mềm ảo hóa buộc phải tạo map (map) bằng metadata hoặc trong một vài tình huống, sử dụng quá thuật toán để định vị hung ác liệu một cách hoạt bát. Tiếp nối, ứng dụng ảo hóa sẽ đón nhận những nhu yếu đọc và ghi từ các phần mềm & lạm dụng map mà nó đã tạo ra, nó có thể sắm hoặc lưu độc ác liệu vào thiết bị vật lý cơ tương thích. Chu trình này tương tự như liệu pháp đc sử dụng quá bởi hệ điều hành PC khi truy xuất hoặc lưu hung liệu ứng dụng.

Ảo hóa lưu trữ che giấu sự tinh vi thực chất của hệ thống lưu trữ, chẳng hạn như SAN, giúp quản lý viên lưu trữ tiến hành những tác vụ sao lưu, lưu trữ và khôi phục thuận tiện hơn và trong time ngắn thêm.

Ảo hóa hướng phía bên trong (in-band) so với hướng phía bên ngoài (out-of-band)

nhìn toàn diện, sở hữu hai chiếc ảo hóa thậm chí được áp dụng cho hạ tầng lưu trữ: in-band và out-of-band.

Ảo hóa in-band – nói một cách khác là ảo hóa đối xứng – cách xử lý ác nghiệt liệu đang đc đọc hoặc lưu và thông báo tinh chỉnh (ví dụ: lệnh I/O, metadata) trong cùng một channel hoặc layer. Thiết đặt này chất nhận được ảo hóa lưu trữ cung cấp các chức năng vận hành cải thiện hơn như các dịch vụ xào luộc và lưu trữ Ác liệu.

Ảo hóa out-of-band – hay ảo hóa ko đối xứng – chia nhỏ tuổi những truyền dẫn tàn ác liệu & đường truyền điều khiển. Vì lớp nền ảo hóa chỉ nhìn thấy những lệnh tinh chỉnh buộc phải các tác dụng lưu trữ cải thiện kém cỏi ko khả dụng.

>>> Xem thêm: mua máy chủ hpml 350 gen 10